Hoạt động PBGDPL ở địa phương

Hướng dẫn tuyền truyền pháp luật liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19

27/07/2021

Nhằm giúp người dân trên địa bàn tỉnh Đắk Nông hiểu rõ một số quy định pháp luật có liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19, nâng cao ý thức tự giác chấp hành và giúp cán bộ, công chức, viên chức, người đang thi hành công vụ áp dụng pháp luật một cách chính xác, kịp thời, góp phần đẩy lùi dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Đắk Nông nói riêng và cả nước nói chung; ngày 26/7/2021, Sở Tư pháp đã ban hành Công văn số 867/STP-PBGDPL hướng dẫn tuyền truyền pháp luật liên quan đến phòng, chống dịch bệnh COVID-19 với những nội dung cần tuyên truyền, phổ biến như sau:

1. Tiếp tục tuyên truyền nội dung các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ: về các biện pháp phòng, chống dịch CCOVID-19 trong những thời điểm khác nhau. Trong đó, Chỉ thị 16 là văn bản thể hiện sự quyết liệt nhất với biện pháp "cách ly toàn xã hội". 

Sự khác biệt giữa Chỉ thị 15, Chỉ thị 16 và Chỉ thị 19 của Thủ tướng Chính phủ được thể hiện ở những nội dung dưới đây:

 

 

Chỉ thị 15

ngày 27/3/2020

Chỉ thị 16

ngày 31/3/2020

Chỉ thị 19

ngày 24/4/2020

 

 

 

Tập trung

đông người

Dừng các sự kiện tập trung trên 20 người 01 phòng

Cách ly toàn xã hội, mọi người dân phải ở nhà, chỉ ra ngoài khi thật sự cần thiết

Dừng lễ hội, tôn giáo, giải đấu thể thao, sự kiện tập trung đông người

Không tụ tập từ 10 người trở lên ngoài công sở, trường học, bệnh viện. 

Không tụ tập quá 02 người ngoài công sở, trường học, bệnh viện

Không tập trung đông người tại nơi công cộng, ngoài công sở, trường học, bệnh viện

Khoảng cách an toàn tối thiểu

02m

02m

01m

 

 

 

 

Các cơ sở

kinh doanh

- Tạm đình chỉ hoạt động các cơ sở kinh doanh dịch vụ

 

- Chỉ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu được mở cửa

- Vẫn tạm đình chỉ các cơ sở kinh doanh dịch vụ

 

- Chỉ các cơ sở kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ thiết yếu được mở cửa

- Mở cửa trở lại với nhà hàng, quán ăn, khách sạn, xổ số, bán buôn, bán lẻ…

- Danh lam thắng cảnh, khu di tích, khu thể thao hoạt động trở lại

 

 

Vẫn đóng cửa khu vui chơi, giải trí, cơ sở làm đẹp, karaoke, mát xa, quán bar, vũ trường

 

 

 

 

Hoạt động vận tải

Hạn chế di chuyển từ vùng có dịch đến các địa phương khác

 

Dừng di chuyển từ vùng có dịch đến các địa phương khác

 

Xe khách liên tỉnh, nội tỉnh, taxi… được hoạt động trở lại

Hạn chế vận chuyển hành khách từ Hà Nội, TP. HCM đến nơi khác

Cơ bản dừng hoạt động vận chuyển hành khách công cộng

 

 

2. Mức xử phạt một số hành vi vi phạm pháp luật trong phòng chống dịch Covid-19 và căn cứ pháp lý.

2.1. Người không đeo khẩu trang nơi công cộng; không giữ khoảng cách theo quy định khi tiếp xúc, ra ngoài không cần thiết bị phạt tiền tối đa đến 3.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.2. Người vứt khẩu trang đã sử dụng không đúng nơi quy định tại nơi công cộng bị phạt tiền tối đa đến 1.000.000 đồng, nếu vứt ra vỉa hè, đường phố bị phạt tiền tối đa đến 2.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm c, d khoản 1 Điều 20 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường và điểm a khoản 18 Điều 1 Nghị định số 55/2021/NĐ-CP ngày 24/5/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (có hiệu lực hành từ ngày 10/7/2021).

2.3. Người nào che giấu, không khai báo hoặc khai báo không kịp thời hiện trạng bệnh COVID-19 của bản thân hoặc của người khác mắc bệnh COVID-19 thì bị phạt tiền tối đa 20.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm a khoản 3 Điều 7 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.4. Người nào không thực hiện xét nghiệm theo yêu cầu của cơ quan y tế có thẩm quyền trong quá trình thực hiện giám sát dịch bệnh COVID-19 thì bị phạt tiền tối đa 3.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm a khoản 2 Điều 7 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.5. Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch thì bị phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, 40.000.000 đồng đối với tổ chức.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo khoản 5 Điều 4, điểm a khoản 3 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.6. Không thực hiện quyết định áp dụng biện pháp hạn chế tập trung đông người hoặc tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh, dịch vụ tại nơi công cộng để phòng, chống dịch Covid-19 thì bị phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng đối với cá nhân, 40.000.000 đồng đối với tổ chức.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo khoản 5 Điều 4, điểm c khoản 3 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.7. Người không thực hiện quyết định kiểm tra, giám sát, xử lý y tế trước khi ra vào vùng có dịch bệnh Covid- 19 bị phạt tiền tối đa đến 30.000.000 đồng.

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm a khoản 4 Điều 12 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế.

2.8. Người nào trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly y tế, cưỡng chế cách ly y tế để phòng, chống dịch Covid-19 có thể bị phạt tiền tối đa đến 20.000.000 đồng hoặc bị xử lý theo Điều 240 Bộ luật Hình sự trong trường hợp gây truyền dịch bệnh cho người khác (Mức phạt tù tối đa đến 12 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định số 117/2020/NĐ-CP ngày 28/9/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế và điểm 1.1 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.9. Người nào trốn khỏi nơi cách ly; không tuân thủ quy định về cách ly; từ chối, trốn tránh việc áp dụng biện pháp cách ly, cưỡng chế cách ly mà làm gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thì bị xử lý theo Điều 295 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 12 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.2 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.10. Người nào không khai báo y tế, khai báo không đầy đủ hoặc khai báo gian dối gây lây truyền dịch bệnh Covid-19 cho người khác bị xử lý theo Điều 240 Bộ luật Hình sự .(Mức phạt tù tối đa đến 12 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.1 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 240 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.11. Người nào đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, thông tin xuyên tạc về tình hình dịch bệnh Covid-19 có thể bị phạt tiền tối đa đến 15.000.000 đồng hoặc bị xử lý theo Điều 288 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 7 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm a khoản 3 Điều 99 và điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thong, tần số tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử và điểm 1.4 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 288 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.12. Người có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19 thì bị xử lý theo Điều 330 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 7 năm ).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.9 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.13. Chủ cơ sở kinh doanh, người quản lý cơ sở kinh doanh dịch vụ (như quán bar, vũ trường, karaoke, dịch vụ mát-xa, cơ sở thẩm mỹ…) thực hiện hoạt động kinh doanh khi đã có quyết định tạm đình chỉ hoạt động kinh doanh để phòng chống dịch bệnh Covid-19, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng trở lên do phát sinh chi phí phòng, chống dịch bệnh thì bị xử lý theo Điều 295 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 12 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.3 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 295 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.14. Người có hành vi lợi dụng sự khan hiếm hoặc tạo sự khan hiếm giả tạo trong tình hình dịch bệnh Covid-19 để mua vét hàng hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố là mặt hàng bình ổn giá hoặc hàng hóa được Nhà nước định giá nhằm bán lại để thu lợi bất chính thì bị xử lý về tội đầu cơ theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Hình sự.( Mức phạt tù tối đa đến 15 năm và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 200.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.8 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 196 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.15. Người có hành vi lợi dụng dịch bệnh Covid-19 đưa ra thông tin không đúng sự thật về công dụng của thuốc, vật tư y tế về phòng, chống dịch bệnh nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 20 năm hoặc tù chung thân và còn có thể bị phạt tiền tối đa đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.6 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.16. Người có trách nhiệm trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19 nhưng không triển khai hoặc triển khai không kịp thời, không đầy đủ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định gây hậu quả nghiêm trọng thì bị xử lý về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định tại Điều 360 Bộ luật Hình sự. (Mức phạt tù tối đa đến 12 năm và còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm).

Căn cứ pháp lý: Áp dụng theo điểm 1.10 mục 1 Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/03/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xét xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19; Điều 360 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

3. Ngoài ra, việc xử phạt vi phạm hành chính một số hành vi có liên quan theo quy định tại Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn; Nghị định số 49/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 109/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý giá, phí, lệ phí, hóa đơn. Cụ thể:

3.1. Đối với hành vi không niêm yết giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm bán hoặc niêm yết giá không rõ ràng gây nhầm lẫn cho khách hàng: Theo khoản 5 Điều 1 Nghị định số 49/2016/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 109/2013/NĐ-CP sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Vi phạm nhiều lần, tái phạm sẽ bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng;

3.2. Đối với hành vi bán cao hơn giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân định giá không thuộc Danh mục bình ổn giá, hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện: Theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP sẽ bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Ngoài ra, hành vi này còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại cho khách hàng số tiền đã thu cao hơn giá niêm yết, trường hợp không xác định được khách hàng để trả lại thì nộp vào ngân sách nhà nước.

3.3. Đối với hành vi lợi dụng dịch bệnh để định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý. Theo Điều 17 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp vào ngân sách nhà nước số tiền thu lợi do định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý./.

                                                                                                   Tín Hòa